Gió hòa nắng ấm, vạn dặm không mây, là một ngày thời tiết đẹp hiếm có. Xa cách nhiều ngày, tôi lại trở về ngọn núi Côn Sơn cao chót vót này… Ồ, không đúng, là núi Xuân Sơn.
Nếu không phải nửa ngày trước, tôi nói với Thẩm Văn Dã câu “Về Côn Sơn trước”, sau đó hai người vì cái địa giới Côn Sơn này nằm ở đâu mà tranh cãi qua lại thì cũng không bàng hoàng phát hiện ra ngọn núi này vốn tên là Xuân Sơn.
Hơn nữa còn là từ rất lâu rất lâu trước đây, đã gọi là Xuân Sơn rồi.
Nhưng năm xưa lão đạo sĩ từng nói với tôi, địa chỉ phái Côn Sơn nằm ở Côn Sơn, chớp mắt đã thành Xuân Sơn. Một đạo sĩ đàng hoàng, không thể nào lừa gạt yêu quái được chứ?
Chuyện này quả thực khiến tôi trầm tư không giải được. Mà người duy nhất có thể giải đáp thắc mắc trong lòng tôi lại biến mất hơn trăm năm, không biết sống chết ra sao. Tôi nhìn đạo quán rách nát nằm giữa rừng núi hiểm trở trước mắt, nhớ lại lời lão đạo sĩ vẫn còn văng vẳng bên tai, nhất thời không biết trong lòng là tư vị gì.
Thẩm Văn Dã thấy tôi ngẩn ngơ ở cửa, lên tiếng: “Không phải muốn bái sư sao? Sư phụ đâu?”
Tôi vung tay biến ra một bài vị bằng gỗ không có chữ. Thẩm Văn Dã không ngờ tôi lại bắt hắn bái một người chết làm sư phụ, sắc mặt thay đổi nhưng cũng không nói gì.
Hắn không hỏi, tôi đương nhiên cũng không cần giải thích. Nhưng mà bài vị không có chữ thì không được, không thể nào không thấy mặt sư phụ, lại còn không biết sư phụ họ tên là gì, người ở đâu chứ? Nếu không hắn chắc sẽ cảm thấy cái lễ bái sư này thật hoang đường.
Tôi trầm ngâm nhớ một lát, lão đạo sĩ tên là gì nhỉ. Thế nhưng nghĩ nửa ngày cũng không nhớ ra. Lại chạy vào căn phòng nhỏ lúc sống của lão đạo sĩ kiểm tra phần chữ ký trên sổ tay của ông ấy thì thấy dòng chữ “Bút tích của Lý Tân Tri”. Thấy vậy, tôi một tay cầm bài vị gỗ, một tay ngưng tụ ngón tay vung vẩy, viết lên đó “Bài vị a nương Lý Tân Tri”, góc dưới bên phải tiếp thêm “Ấu nữ Trì Ngộ kính dâng”.
Hừ, cho ông ấy tức chết luôn.
Ánh mắt Thẩm Văn Dã rơi trên bài vị: “Sư phụ là nữ à?”
Tôi mỉm cười: “Nam.”
Thẩm Văn Dã cũng không biết nói gì hơn.
Tôi bưng bài vị: “Bái sư đi.”
Thẩm Văn Dã đi đến bên bàn thờ dưới bức tượng Tây Vương Mẫu, lục lọi trong đống đồ lộn xộn không ai dọn dẹp trên bàn thờ: “Trên bàn thờ không có hương nến à?”
“Đốt hết thì không còn nữa, không ai đi mua, đương nhiên là không có rồi.”
Hắn phủi phủi bụi trên tay, lại quét mắt nhìn chỗ khác: “Có trà nước không?”
Đang yên đang lành cần trà nước làm gì?
“Không có.”
“Bái sư mà không dâng trà thì sao gọi là bái?”
Đúng là lắm chuyện, bái sư thôi mà cũng lề mề.
Tôi mất kiên nhẫn nói: “Cứ thế mà bái.”
Thẩm Văn Dã thấy tôi như vậy, cũng không cố chấp với những lễ nghi rườm rà không cần thiết nữa. Phủi phủi bụi trên người, hắn đứng trước bài vị: “Tôn chỉ lập phái của sư môn là gì?”
Tuổi thọ của phái Côn Sơn còn lâu hơn cả một con tiểu yêu như tôi, chuyện này sao tôi biết được?
Nhưng với tư cách là kẻ đầu sỏ xúi giục Thẩm Văn Dã lên núi bái sư, tôi ắt sẽ không thể để lộ sơ hở. Dù sao người trong môn phái đều đã xuống lỗ hết rồi, tôn chỉ là gì chẳng phải do tôi quyết định sao.
“Ừm…” Tôi trầm ngâm một lát, nhớ lại phong cách hành sự của lão đạo sĩ, đại khái chính là: “Lòng mang thiên hạ đi.” Nói xong tôi không khỏi nhớ đến viễn cảnh tươi đẹp khi mình trở thành lão tổ tông của phái Côn Sơn, thầm nghĩ có thể thêm một câu nữa: “Còn phải làm rạng danh môn phái, đồ tử đồ tôn càng nhiều càng tốt.”
“Được.” Thẩm Văn Dã đáp lời, chỉnh lại cổ áo, thu lại phong cách lười biếng thường ngày, khuỵu gối quỳ xuống.
Gió mát trên núi làm bạn, tiếng chim hót líu lo. Hắn cúi người hành lễ ba dập đầu, lúc ngẩng đầu lên, ánh mắt dường như đã lắng đọng lại, trịnh trọng nói: “Sư phụ ở trên, nay Thẩm Văn Dã con bái nhập sư môn. Lấy việc làm rạng rỡ môn phái làm nhiệm vụ của mình, đi theo chính đạo, bước trên con đường ngay thẳng, tu tập thuật pháp của Côn Sơn, rèn luyện lòng nhân nghĩa, vun bồi đức dày, giữ tâm niệm thiện lành, kính sợ quỷ thần. Nếu có làm trái, thiên tru địa diệt. Núi cao sông dài, mãi mãi kế thừa truyền thống sư môn.”
Tôi thấy Thẩm Văn Dã bái sư trịnh trọng như vậy, ngược lại không giống với tác phong thường ngày của hắn, nhưng tôi rất hài lòng.
Dập đầu xong, Thẩm Văn Dã đứng dậy phủi phủi đất trên đầu gối: “Thái Thanh Diệu Quyết ở đâu?”
Tôi chỉ vào căn phòng nhỏ phía sau: “Đó là phòng của sư phụ anh, tất cả đồ đạc đều ở trong đó.”
Dặn dò xong, tôi ra khỏi đạo quán rách nát, đi về phía khu rừng rậm rạp tìm bản thể của mình.
Tôi là mộc yêu, có thể hóa thành người, nhưng không giống như chim muông thú rừng có thể dùng bản thể để hóa hình. Loại thảo mộc thành tinh như chúng tôi, đều có một điểm yếu chí mạng, đó chính là bản thể.
Bản thể còn, mạng còn, bản thể nếu bị người ta nắm trong tay, thì mạng sống ngàn cân treo sợi tóc rồi. Vì vậy tôi mới chọn đi theo con đường tiên đạo, thành tiên rồi có thể thoát thai hoán cốt, bản thể và hình thể hợp làm một, tôi không cần phải cắm rễ vào đất bùn nữa, cũng bớt đi một điểm yếu bị người ta nắm thóp.
Chỉ là trăm năm nay, linh khí đất trời mỏng manh, tụ linh phù mà lão đạo sĩ vẽ cho bản thể của tôi cũng dần mất đi tác dụng, dẫn đến việc tiến độ tu hành hiện tại của tôi rất chậm chạp. Ngày qua ngày ngồi thiền tĩnh tâm, hấp thụ chút linh khí đất trời tinh hoa nhật nguyệt ít ỏi, không biết đến năm tháng nào mới tu thành chính quả. Đây cũng chính là lý do tôi nhất quyết bắt Thẩm Văn Dã lên núi.
Tụ linh phù có thể hội tụ linh khí, có ích cho việc tu hành của tôi. Nhưng tôi chỉ là một con yêu quái, đi theo lão đạo sĩ cũng chỉ tai nghe mắt thấy học được chút da lông, bảo tôi vẽ tụ linh phù thì tuyệt đối không vẽ được. Đành phải gửi gắm hy vọng vào Thẩm Văn Dã, đợi hắn học thành tài, ừm… Vẽ hàng ngàn hàng vạn tấm tụ linh phù là không thể nào, nhưng ít nhất cũng phải vẽ cho tôi mười tấm tám tấm, để tôi tiếp tục tu luyện.
Tôi ngồi ngẩn ngơ dưới gốc cây bản thể một lúc, lúc chạng vạng tối quay về đạo quán Côn Sơn. Thẩm Văn Dã đang ngồi trên bậc cửa gỗ trước đạo quán, nửa tựa vào cửa, mày mắt giãn ra ngắm nhìn cảnh đẹp hoàng hôn. Dưới chân đặt một chồng sách, gió núi thổi qua, cuốn sách trên cùng lật “xoạt xoạt”, lại vào lúc sắp rơi xuống, gió ngừng trang sách tĩnh lặng. Ánh hoàng hôn màu cam đỏ hắt lên người hắn, trông như hòa làm một với cảnh đẹp lúc chạng vạng này.
Nghe thấy động tĩnh, hắn lười biếng nhìn sang: “Cô bảo tôi bái sư, tôi bái rồi, bây giờ tôi cũng phải về, Lý Lão Nhị vẫn đang đợi tôi ở nhà nghỉ.”
Tôi không nói gì, lặng lẽ nhìn hắn cúi người ôm đống sách dưới đất tiêu sái rời đi, sau đó ngồi vào vị trí vừa nãy của Thẩm Văn Dã, chống cằm ngẩn ngơ.
Sắc trời trên núi đẹp, nhưng đến nhanh đi cũng nhanh. Gió núi thổi rất dễ chịu, khiến tôi hơi buồn ngủ. Không lâu sau chân trời bị một màu mực nhuộm đen, trăng sáng treo lơ lửng trên không trung.
Và Thẩm Văn Dã cũng mang theo một thân chật vật quay lại.
Phái Côn Sơn sở dĩ hơn trăm năm nay không ai có thể đi lạc vào, không phải vì nằm ở nơi rừng thiêng nước độc núi non hiểm trở, mà là vì được bố trí tầng tầng lớp lớp trận pháp.
Gió núi ban đêm thổi mạnh, thổi tung lá cây trong rừng xào xạc. Lúc này đến lượt tôi nhàn nhã hỏi thăm một câu: “Về rồi à?”
Trên người Thẩm Văn Dã dính không ít cỏ rác cành lá, chiếc áo sơ mi trắng đã lấm lem xám xịt, rõ ràng là đã lăn lộn trong đất mấy vòng rồi. Hắn đứng ở vị trí lúc trước của tôi, đôi mắt đen kịt nhìn chằm chằm vào tôi: “Thế này là có ý gì?”
Nghe giọng điệu này, chắc là đã nhìn ra tôi điều khiển trận pháp không cho hắn ra ngoài rồi.
Cũng đúng, dù sao cũng là hậu nhân truyền thừa của lão đạo sĩ, nếu ngay cả chút động tĩnh nhỏ này cũng không nhìn ra thì tôi giữ lại cũng chẳng có tác dụng gì.
Tôi biến ra một cây bút chu sa cầm trên tay nghịch ngợm: “Bí thuật không thể xem không công được.”
“Cô muốn thế nào?”
“Rất đơn giản.” Tôi xoay xoay cán bút, ánh mắt rơi trên mấy cuốn sách trong tay hắn: “Học hành chăm chỉ, suy ngẫm nhiều vào, đợi vẽ được tụ linh phù thì anh có thể đi.”
Thái Thanh Diệu Quyết chia làm ba quyển, mỗi quyển có ý nghĩa sâu xa riêng, nhưng chỉ là ý nghĩa sâu xa, cụ thể dùng thế nào, còn phải dựa vào sự lĩnh ngộ và thông hiểu toàn diện của mỗi người. Giống như tụ linh phù kia, nó là bùa chú do lão đạo sĩ thông qua việc lĩnh ngộ ý nghĩa sâu xa của bí thuật mà vẽ thành, tập hợp sự cảm ngộ của bản thân lão đạo sĩ đối với đất trời, sự nắm bắt trật tự phát triển của vạn vật, không thể dễ dàng thành công được.
Tôi gửi gắm hy vọng vào Thẩm Văn Dã, ít nhiều cũng có ý vái tứ phương khi có bệnh. Ngặt nỗi tiên đạo mịt mờ, ngộ tính của tôi lại có hạn, nếu thiếu đi sự phụ trợ của tụ linh phù thì e là tu đến hết kiếp yêu quái cũng không bước qua nổi ngưỡng cửa.
Hết cách rồi, thiên đạo lão nhân gia không thích có sự tồn tại sánh ngang với mình. Vì vậy mà thần đạo vẫn diệt, tiên đạo khó cầu, mới khiến những phàm trần tục vật như chúng tôi khó bước lên đại đạo.
Hầy, nghĩ xa quá rồi.
“Trong đạo quán có hai căn phòng nhỏ, tôi với tư cách là trưởng bối nên có đạo đãi khách, anh thích phòng nào cứ tự nhiên, nghỉ ngơi sớm đi.” Tôi vung tay ném cây bút chu sa qua, đứng dậy phủi phủi bụi trên mông, sau đó bay lên nóc đạo quán, ngồi khoanh chân hóng gió.
Thẩm Văn Dã đứng bên dưới ngửa đầu nhìn tôi, giọng điệu bình thản: “Tôi thật sự cảm ơn cô đấy.”
“Không cần khách sáo.”
Màn đêm buông xuống lặng lẽ, nến trong đạo quán đã dùng hết từ bảy tám mươi năm trước rồi. Trước đây nhóc con đón mặt trời lặn chưa được bao lâu đã nằm xuống nghỉ ngơi, tôi cũng không nhận ra loài người cần dùng đèn.
Thẩm Văn Dã một tay cầm chiếc điện thoại phát ra ánh sáng, ngồi trên chiếc ghế đá nghỉ ngơi trước cửa đạo quán, bày ra một đống sách, cắm cúi lục lọi. Người này chắc không biết đạo lý dục tốc bất đạt, cho dù hắn có lật tung Thái Thanh Diệu Quyết lên, bên trong cũng không có ghi chép về tụ linh phù.
Tôi nằm ngửa trên nóc đạo quán, đầu gối lên cánh tay, nhìn vầng trăng sáng nơi chân trời, dần dần chìm vào giấc ngủ.
Sáng sớm hôm sau, thứ đầu tiên đánh thức tôi không phải là tiếng chim hót buổi sớm, mà là giọng nói hơi mệt mỏi và khàn khàn của Thẩm Văn Dã đứng trước cửa đạo quán, cùng với tiếng gọi hơi cao giọng: “Trì Ngộ…”
Tôi “xoạch” một cái mở mắt ra.
Những năm nay tiếng gọi cô nãi nãi cung kính của nhóc con đã khiến tôi quen rồi, đột nhiên có người gọi tên tôi, suýt nữa tưởng quay lại thời lão đạo sĩ vẫn còn. Tôi xoa xoa mi tâm, một tay chống lên ngói ngồi dậy, có chút mất kiên nhẫn: “Muốn chết à, tôi là cô nãi nãi của anh.”
Thẩm Văn Dã lại có giọng điệu lười biếng: “Cô nói gì là cái đó à? Tôi còn nói tôi là trưởng bối của cô đấy.”
Ý gì?
Thẩm Văn Dã quơ quơ một cuộn sách trong tay về phía tôi: “Sư phụ nói rồi, Côn Sơn Trì Ngộ, tính tình ngoan cố, phẩm hạnh không tốt. Tuy tuổi cao nhưng trí tuệ không bằng, toàn vì kiếp yêu quái đằng đẵng, chẳng qua chỉ như mười bảy mười tám tuổi ở nhân gian. Mong đệ tử sau này cẩn thận đối xử bằng tấm lòng của bậc trưởng bối, tận tâm dẫn dắt, đừng so đo với cô ấy.”
Tôi nhảy vọt một cái, từ trên nóc đạo quán nhảy xuống, giật lấy cuộn sách trong tay Thẩm Văn Dã xem, tức đến mức tay run rẩy: “Khá lắm lão đạo sĩ, đi rồi còn không quên bịa chuyện nói xấu tôi với hậu nhân!”
Hừ, tôi đi nói lý lẽ với lão chưởng môn đây!