Môn đồ phái Côn Sơn lụi tàn, từ nhỏ tôi đã do lão đạo sĩ dạy dỗ.
Lão đạo sĩ khi ấy vẫn chỉ là một thiếu niên thanh xuân phơi phới. Theo thời gian trôi qua, lão chưởng môn qua đời, lão đạo sĩ cũng từ một thiếu niên thanh xuân dần trưởng thành rồi trở thành một ông lão. Lại thêm mười mấy năm ngắn ngủi trôi qua, tóc ông ấy ngày càng bạc, cơ thể ngày càng kém, tuổi tác ngày càng cao, còn tôi vẫn chỉ là một con yêu quái non nớt mới hơn một trăm tuổi.
Người ta thường nói tình mẫu tử, yêu thương chim non. Tôi sinh ra không cha không mẹ, lại không có trưởng bối yêu tộc che chở, lão đạo sĩ chính là người mẹ hiền nhân gian mà tôi may mắn có được. Thấy mẹ hiền ngày càng lớn tuổi mà mãi không thu nhận một đồ đệ nào để gửi gắm tôi, tôi ít nhiều cũng có chút lo lắng, bèn bóng gió hỏi một câu. Lão đạo sĩ khi ấy lại cười một cách thần bí khó lường, bảo với tôi rằng duyên phận chưa tới.
Duyên phận này kéo dài cho đến tận khi ông ấy xuống núi cứu thế vẫn chưa tới. Lúc đi, ông ấy chỉ cười híp mắt nói với tôi rằng: “Ta và vị đồ đệ tương lai duyên phận hãy còn nông, đến chết chưa chắc đã gặp được một lần. Nếu con có cơ hội chạm mặt thì hãy thay ta để tâm nhiều hơn một chút, đừng để phái Côn Sơn của ta đời sau không có người kế thừa.”
Có đồ đệ là tốt rồi. Lão đạo sĩ có đồ đệ, cũng có nghĩa là sau này vẫn sẽ có người tiếp tục chăm sóc tôi. Tôi yên tâm hơn phần nào, bèn hỏi: “Thiên địa bao la, làm sao ta biết ai mới là đồ đệ của ông?”
Ông ấy cười híp mắt nhìn tôi: “Tự có duyên pháp.”
Lại là duyên pháp. Tôi cũng chẳng biết, lão đạo sĩ ngày nào cũng bàn chuyện duyên pháp cao thâm gì đó, loại câu chữ nửa hiểu nửa ngờ lại mang theo vẻ thần bí này thì nói ra cũng bằng thừa. Tôi không so đo chuyện này nữa, lại hỏi: “Ngày về là khi nào?”
Lão đạo sĩ khi ấy quay lưng đi, vẫy tay chào tôi một cách tiêu sái, ngửa mặt cười lớn: “Chuyến đi này, một đi không trở lại, có duyên ắt sẽ gặp lại.”
Côn Sơn cỏ dại um tùm, cây cối sừng sững. Ánh hoàng hôn xuyên qua tán lá, kéo cái bóng thẳng tắp cô độc của ông ấy thành một vệt dài. Tôi tức cảnh sinh tình, thầm nghĩ lão đạo sĩ này quả không hổ danh là mẹ hiền của tôi, dù đã hơn trăm tuổi vẫn giữ phong thái đạo cốt tiên phong.
Lão đạo sĩ chưa từng nói dối lừa người, quả nhiên đúng như lời ông ấy nói, một đi không trở lại.
Tôi đã không ít lần tự hỏi, sao ông ấy lại nhẫn tâm vứt bỏ con yêu quái nhỏ do một tay mình ngậm đắng nuốt cay nuôi lớn để chạy ra ngoài chịu chết chứ. Vì thế ngày nào tôi cũng chạy ra nấm mồ của lão chưởng môn để tố cáo: “Lão chưởng môn, tên đồ đệ này của ông quá nổi loạn rồi! Thời buổi bây giờ, yêu quái sinh tồn gian nan, đồ đệ của ông lớn tuổi rồi nên cứng cánh phải không, đứa trẻ nuôi trong nhà nói bỏ là bỏ ngay được sao?”
Hầy, nói ra thì thật xấu hổ, tôi là một con tiểu yêu Côn Sơn nhưng khi mất đi sự che chở của lão đạo sĩ, đến cửa cũng không dám bước ra. Ngày tháng năm này qua năm khác tố cáo cũng chẳng thấy lão chưởng môn nhảy từ trong mồ ra để chủ trì công đạo cho tôi.
Hơn một trăm năm sau đó, tôi đành an phận thủ thường ở lại Côn Sơn tu hành. Nếu không phải vì chuyện của nhóc con, tôi tuyệt đối sẽ không xuống núi.
Quả nhiên đúng như lời lão đạo sĩ nói, vạn vật đều có duyên pháp. Vừa xuống núi đã để tôi gặp được truyền nhân của lão đạo sĩ.
Trời sắp sáng hẳn, nhóm người lại quay về ngôi nhà nhỏ của thôn trưởng. Vừa bước vào cửa đã thấy có người còng lưng, khoác chiếc chăn bông dán đầy bùa trừ tà đi tới.
Ngôi làng này sương mù dày đặc, lại không có ánh nắng, hồi lâu sau tôi mới nhìn rõ khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn và sương gió trốn trong chiếc chăn bông kia, đây chẳng phải là thôn trưởng mà tôi nhìn thấy vào ban ngày sao? Không biết vì sao lại còng lưng, khoác chiếc chăn bông dán đầy bùa chú.
Chỉ thấy lão ta đi tới, giọng nói có phần già nua khàn đục như con cá khô gặp lại dòng sông, tràn đầy vẻ kỳ vọng: “Thế nào? Giải quyết xong chưa?”
Đạo sĩ hoàng bào đắc ý ra đi rồi lại bẽ bàng trở về, làm bộ làm tịch sờ sờ hai chòm râu giả mới dán lúc nãy, ra vẻ cao thâm: “Con lệ quỷ đó đạo hạnh thâm sâu, trong chốc lát không đối phó được đâu. Đợi trời sáng chúng ta lại đi thăm dò xem có cách nào chế ngự được ả ta không.”
Lão thôn trưởng nghe vậy kích thích đến mức nói năng run rẩy: “Đạo trưởng! Hy vọng của thôn chúng ta đều đặt hết lên người ngài rồi! Ngài nhất định phải giúp chúng tôi giải quyết xong chuyện này đấy! Nếu ngài giải quyết xong chuyện này, tôi sẽ cộng thêm ba mươi vạn, lập tức chuyển khoản vào thẻ cho ngài, tôi tuyệt đối không nói hai lời.”
Tuy tôi không biết cách tính toán tiền bạc của loài người thế nào, nhưng chỉ nghe câu này mà thôn trưởng đã đưa cho ông ta ba mươi vạn hoặc hơn thế để mời bắt quỷ, nay ông ta lại giao việc cho Thẩm Văn Dã với giá năm vạn. Cái con số chênh lệch một trời một vực này, nghe thế nào cũng thấy gian trá.
Ông ta hoảng hốt liếc nhìn Thẩm Văn Dã, liên tục ra hiệu bảo thôn trưởng dừng lại: “Thôi thôi, người tu đạo chúng tôi không coi trọng chuyện này. Trừ ma vệ đạo vốn là bổn phận của chúng tôi, tiền nong gì chứ, xử lý thỏa đáng là được. Cái đó… Ngài nói có phải không, Thẩm đạo hữu?”
Thẩm Văn Dã thức trắng một đêm, giọng điệu có chút uể oải: “Đương nhiên rồi, người huyền thuật chúng ta là ghét nhất tiền tài, thôn trưởng đến lúc đó cứ đưa năm trăm tệ gọi là có lệ là được.”
Ông ta giống như tự đá vào chân mình, khuôn mặt nghẹn lại thành màu gan lợn: “Cũng… Cũng không phải ý này.”
Thẩm Văn Dã rộng lượng giúp thôn trưởng tiết kiệm chút tiền bạc. Kết quả thôn trưởng lại không biết điều cho lắm, ngược lại còn tỏ vẻ ghét bỏ xua tay với Thẩm Văn Dã: “Đi đi đi, ở đây không có việc của cậu.”
“Có chứ, sao lại không có việc của tôi.” Thẩm Văn Dã bị ghét bỏ như vậy mà không hề tức giận, ngược lại còn cong môi cười, nghiêng đầu hất cằm về phía đạo sĩ hoàng bào bên cạnh: “Vừa nãy ông ta mới bỏ ra hẳn năm vạn, mời tôi giúp bắt con lệ quỷ hại người trong thôn các người đấy.”
Thôn trưởng sững người, không chắc chắn nhìn về phía đạo sĩ hoàng bào: “Đây là thật sao?”
Mặt ông ta nghẹn thành màu gan lợn xào, hồi lâu sau mới nói: “Cái này… Người trong huyền thuật với nhau đều là người một nhà, khó khăn lắm mới gặp nhau thì cùng nhau học hỏi. Vừa hay xem thử bản lĩnh của người đồng nghiệp để đánh giá trình độ của thuật sĩ huyền học hiện tại.”
Dù nói vậy, nhưng ánh mắt thôn trưởng nhìn ông ta lại mang theo vài phần hoài nghi.
Trong lúc mấy người đang nói chuyện, chân trời đã sáng hẳn. Thôn trưởng nhìn ánh mặt trời dần cao lên thì cởi chiếc chăn bông trên người xuống, cẩn thận từng li từng tí gấp chăn lại, động tác nhẹ nhàng như đang đối xử với một bảo vật tối cao.
Gấp xong lại cẩn thận ôm chăn bông về phòng mình, lúc đi ra thì bảo phải đi gọi dân làng đến giúp nấu cơm nên đi ra ngoài. Hai tiểu đồ đệ của đạo sĩ hoàng bào thức đêm không nổi, chạy về phòng nghỉ ngơi.
Trong phòng khách chỉ còn lại tôi, Thẩm Văn Dã và đạo sĩ hoàng bào.
Chưa đầy nửa nén nhang, ngoài cửa nhà thôn trưởng chạy tới hai gã đàn ông mặc áo dài vạm vỡ. Cả hai vừa nhìn thấy tôi đã hoảng sợ lùi lại liên tục, đưa tay chỉ vào tôi ấp úng gọi “cô” mãi không thôi, vẻ mặt hoảng sợ không kém gì đêm qua.
Tôi thấy hai kẻ đó cứ “cô” mãi thế này cũng không phải cách, bèn chủ động nở một nụ cười để tỏ ý thân thiện. Kết quả không cười thì thôi, nụ cười này vừa ra đã khiến hai kẻ đó ngẩn người ra.
Hồi lâu sau, Cường tử dường như hạ quyết tâm gì đó, bám vào khung cửa rồi vừa chỉ vào tôi vừa mở miệng nói với đạo sĩ hoàng bào: “Đạo gia! Người phụ nữ này nuôi tiểu quỷ! Tôi, tôi tối qua tận mắt nhìn thấy, giấu ngay trong chiếc ô giấy mang theo người, chuyên dùng để hại tính mạng người khác. Ngài phải trừ hại cho dân, tiêu diệt con quỷ trong ô của cô ta, rồi hạ cho cô ta một lời nguyền gì đó, để cô ta vĩnh viễn không thể hại người!”
Đại khái là ban ngày ban mặt, lại có đạo sĩ tọa trấn nên hai kẻ đó không bị nhóc con dọa cho tè ra quần như đêm qua, ngược lại còn đứng vững ở cửa. Hổ tử hùa theo phụ họa: “Đúng! Hạ lời nguyền rủa cho cô ta! Không thể để cô ta làm chuyện tày trời được!”
Tôi nghe thấy thú vị, ngồi ngay ngắn trong phòng khách, một tay chống cằm nhìn hai kẻ đó.
Nhớ lại các bậc tổ tiên yêu tộc của tôi đều là những nhân vật chỉ cần thi triển chút mưu hèn kế mọn cũng đủ khiến loài người sợ hãi đến mức đầu rơi máu chảy. Đến lượt tôi thì lại bị người ta chỉ thẳng mặt sai khiến đạo sĩ xử lý tôi thế này thế nọ, ít nhiều cũng có chút mất thể diện.
Mà kẻ đầu sỏ gây ra tất cả chuyện này, sau khi cầm năm trăm đồng tiền của tôi lại chẳng làm việc gì cả, còn suýt chút nữa gọi sét đánh chết tôi.
Nghĩ như vậy, Thẩm Văn Dã còn đáng ghét hơn hai kẻ trước mặt này, tôi lập tức chuyển ánh mắt, khó chịu nhìn Thẩm Văn Dã.
Đối phương lại tỏ ra vô cùng bình thản, chạm phải ánh mắt tôi thì đáp lại bằng một nụ cười thản nhiên, điều này phần nào cũng khiến yêu quái phải tức chết.
Đạo sĩ hoàng bào nghe xong lời tố cáo của hai kẻ ở cửa, lại vô cùng kinh ngạc nhìn tôi: “Cô… Nuôi tiểu quỷ?”
Không biết ông ta kinh ngạc vì bản thân là một đạo sĩ mà lại không nhìn ra nhóc con trong ô của tôi, hay là kinh ngạc vì chuyện tôi “nuôi tiểu quỷ”.
Bất kể ông ta kinh ngạc vì điều gì thì cũng chẳng liên quan đến tôi, tôi mỉm cười: “Chưa từng.”
Đôi mắt kinh ngạc của đạo sĩ hoàng bào thay đổi. Ông ta không nhìn tôi nữa, chỉ là hai bên má ửng đỏ, ngẩn ngơ một lát: “Ồ.”
Hai kẻ ở cửa thấy vậy thì sốt ruột: “Đạo gia! Ngài đừng nghe cô ta nói nhảm, trong ô của cô ta quả thực nuôi một con quỷ, vị đạo gia bên cạnh ngài lúc đó cũng có mặt, không tin thì ngài hỏi cậu ta xem.”
Thẩm Văn Dã chỉnh lại vạt áo, đối mặt với ánh mắt phóng tới, tỏ ra vô cùng thản nhiên và vô tội: “Tiểu quỷ? Tiểu quỷ gì chứ? Các người nhìn cô gái này xem, tuổi tác cũng chỉ mới đôi mươi, cô ấy mà nuôi tiểu quỷ á? Không bị tiểu quỷ ăn thịt là may lắm rồi.”
Hai kẻ ở cửa thấy Thẩm Văn Dã lật mặt nhanh hơn lật bánh tráng so với đêm qua, kinh ngạc đến mức không biết nói gì cho phải. Cường tử có lẽ là vì sự bốc đồng trong lúc tranh cãi đã chiến thắng nỗi sợ hãi, vậy mà lại bước vào phòng khách, giơ tay định cướp chiếc ô giấy đang đặt trên bàn của tôi.
Tôi đường đường là một con tiểu yêu, hơn hai trăm năm nay dốc lòng tu hành, chưa từng tạo nghiệp chướng. Tính ra thì cũng là một con yêu quái lương thiện thật thà chính cống, vậy mà lại bị một con người hết lần này đến lần khác ức hiếp. Dù là Phật hay Bồ tát cũng khó mà che giấu được ngọn lửa giận trong lòng. Thấy người đuổi đến sát nút, tôi chẳng nghĩ ngợi nhiều, vung chân đá văng kẻ đó bay ra ngoài.
Chắc là một gã đàn ông vạm vỡ đầy cơ bắp bị tôi một cước đá bay ra ngoài một cách nhẹ nhàng, hiện trường hiếm hoi xuất hiện một sự im lặng quỷ dị.